Chuyện cổ tích dân tộc Mường về thời Hùng Vương

09:34 | 18/04/2021

|
Trong điều kiện chiến tranh và hoàn cảnh kinh tế đất nước lúc đó còn rất nhiều khó khăn, nên thế hệ trẻ em ở miền núi như chúng tôi rất khó để có được những cuốn sách truyện hoặc được nghe đài, xem ti vi.
Chuyện cổ tích dân tộc Mường về thời Hùng Vương
Người dân đất Việt thành kính tri ân công đức các Vua Hùng. https://dulich.petrotimes.vn/

Thành thử, những câu chuyện cổ tích đến với chúng tôi chủ yếu do ông bà, cha mẹ kể hoặc được thầy cô đọc cho nghe trong tiết kể chuyện vào buổi học cuối tuần. Tuổi thơ trong hoàn cảnh ấy, bất kỳ câu chuyện nào được nghe kể cũng là điều vô cùng thú vị, nhưng nếu nghe chuyện cổ tích thì vẫn là điều hứng thú hơn cả, nhất là những câu chuyện được mào đầu bằng cụm từ: "Vào thời Hùng Vương thứ…”.

Chúng tôi thích vì phần thì được "lạc vào” thế giới thần tiên huyền diệu, phần vì niềm tự hào là con Lạc, cháu Hồng giỏi giang, tài trí, kiêu hùng. Bởi thế, những câu chuyện như "Sơn Tinh, Thủy tinh”, "Mai An Tiêm”, "Tiên Dung và Chử Đồng Tử”, "Sự tích bánh chưng, bánh dày”… cứ hằn sâu mãi trong tiềm thức của chúng tôi.

Tuy vậy, trong cộng đồng người Mường của chúng tôi ở tỉnh Phú Thọ và ở tỉnh Hòa Bình cũng có một câu chuyện cổ tích được kể theo phiên bản của riêng mình, đó là câu chuyện "Ông Đùng, bà Đà”, theo tiếng Mường là "Ôông Tùng, pà Tà”.

Sau này, khi trưởng thành, tôi được biết thêm về chuyện cổ tích ông Đùng, bà Đà còn khá phổ biến ở nhiều nơi (chủ yếu là ở các địa phương vùng đồng bằng Bắc bộ, vùng ven đồng bằng Bắc bộ) và mỗi nơi lại có một phiên bản tương đối khác nhau; thậm chí, nhiều nơi có cả lễ hội ông Đùng, bà Đà.

Trở lại với chuyện cổ tích "Ôông Tùng, pà Tà”, người Mường ở Phú Thọ được kể rằng, xưa kia, trời đất sinh ra con người, nhưng con người lại nhỏ bé mà đất đai vô cùng rộng lớn và chỗ cao, chỗ thấp; nước thì lai láng chỗ nông, chỗ sâu, cây cối rất to, dây dợ chằng chịt nên con người không đủ công cụ, sức lực để khai phá làm ăn nên luôn đói khổ. Nhà trời trông thấy cảnh tượng này đã sai ông Đùng, bà Đà là hai người khổng lồ xuống giúp dân Mường. Ông Đùng thì ở đất huyện Thanh Sơn, bà Đà ở đất huyện Yên Lập rồi hai người lấy nhau.

Ngày ngày, ông Đùng, bà Đà mải miết nhổ cây cổ thụ để giúp dân mở những cánh đồng rộng lớn; lấy tay bới đất cho nước lai láng dồn về một dòng và những vết bới ấy bỗng trở thành sông Đà, sông Hồng… Nơi đất thấp hoặc sâu trũng, ông Đùng, bà Đà bốc đất đắp thành gò, núi để lạc dân cư trú mà không sợ lũ lụt. Bà Đà còn chuyên tâm dạy dân trồng cấy, chăn nuôi nên dân Mường được sống sung túc.

Đến một ngày, vua Hùng kinh lý lên mạn Thanh Sơn, Yên Lập tìm đất đóng đô và vua quyết định chọn vùng Nga Mỹ ở Yên Lập định đô, bởi nơi ấy có đất rộng để cày cấy, có núi sông bao bọc như thành lũy và lại có núi Nả cao vút nên đứng ở trên đó sẽ nhìn khắp ra bốn cõi. Bà Đà thấy vậy mừng lắm. Bà ra sức chuẩn bị nhà xe cho vua, nuôi cả bầy rùa đông đúc để vua xem quẻ, sắm sửa cỗ lớn để thết đãi vua cùng các lạc hầu, lạc tướng.

Tuy nhiên, lạc hầu, lạc tướng cùng các con của vua khuyên vua Hùng nên về vùng núi Nghĩa Lĩnh để đóng đô, vì nơi ấy rất thuận lợi cho mở mang bờ cõi và vua đã thuận lòng. Những thứ bà Đà chuẩn bị cho vua như nhà xe, bầy rùa… sau đó đều hóa đá và bây giờ tại nơi ấy vẫn còn những địa danh như núi đá Nhà Xe, khe Suối Rùa.

Khi vua về định đô ở Nghĩa Lĩnh, đã khiến những con yêu quái ở đây như diều hâu tinh, thằn lằn tinh, giao long tinh, xà tinh phải dạt xa ra bốn hướng xung quanh kinh đô và chúng luôn quấy phá ác liệt dưới sông, trên núi, ăn thịt lạc dân. Vua Hùng bao lần sai quân lính đi trừng trị bọn yêu quái nhưng vẫn không thành. Biết được chuyện đó, ông Đùng tâu với vua xin được diệt trừ yêu quái và những con yêu tinh khổng lồ kia đã bị ông tiêu diệt.

Hoặc khi đất nước bị bọn giặc từ phương Bắc tràn xuống cướp phá, ông Đùng, bà Đà đã gác chân qua dòng sông Thao, sông Đà cho dân kéo lên mạn Thanh Sơn, Yên Lập lánh nạn và sau đó ông dùng đá to ném chết hết quân giặc.

Cùng chi tiết này, người Mường ở Hòa Bình lại kể rằng, dân Mường hai bên bờ sông Đà luôn kêu than vì việc đi lại giữa hai bờ rất khó khăn, nên ông Đùng lấy chân mình bắc qua sông cho mọi người đi lại rồi sai bà Đà đi lấy đá bắc cầu qua sông. Người người đi lại qua chân ông Đùng nườm nượp và trẻ thì đi nhanh, người già, em nhỏ đi chậm hơn nên đêm tối phải đốt đuốc rồi rụi tàn lửa khiến chân ông Đùng bị cháy loang lổ. Bà Đà đi lấy đá gặp cảnh người dân bị đau ốm đã nán lại lấy thuốc trị bệnh cho dân. Khi về, thấy chân ông Đùng bị cháy khiến bà hoảng hốt vứt hết đá xuống sông và nơi ấy chính là ghềnh đá Thác Bờ bây giờ.

Khi đất nước bình yên, ông Đùng, bà Đà lại trở về Thanh Sơn, Yên Lập cày ruộng làm nương, chăn nuôi. Những con trâu, bò, lợn, dê… của ông Đùng, bà Đà to lớn khác thường với gia súc, gia cầm của dân Mường; rau thì như cây cổ thụ, hạt lúa to như cái đấu bảy nên phải bổ nhỏ ra mới nấu được. Gặp năm dân vùng thấp bị ngập lụt không cày cấy được, ông Đùng, bà Đà chia cho mỗi nhà vài bông lúa nên qua được nạn đói.

Nội dung chuyện cổ tích ông Đùng, bà Đà của người Kinh hay người Mường đều đã được cắt nghĩa khác nhau; trong đó, có cả những lý giải mang quan niệm triết học về vũ trụ cổ xưa của người Việt cổ xưa. Tuy vậy, nhận thức phổ biến nhất về nội dung câu chuyện này, đó là cốt truyện phản ánh sức mạnh tinh thần đoàn kết cộng đồng người Việt thời mở nước. Đồng thời, thể hiện khát vọng về sức mạnh, ý chí của con người thời xa xưa trong chế ngự thiên nhiên khắc nghiệt, giặc dã để mang lại cuộc sống bình yên, no ấm của cư dân nhà nước Văn Lang.

https://dulich.petrotimes.vn/

Báo Yên Bái