Đình Phù Chính

10:13 | 24/12/2019

|
Đình Phù Chính hiện nay thuộc thôn Phù Chính – xã Tuân Chính – huyện Vĩnh Tường – tỉnh Vĩnh Phúc. Đất đai thôn Phù Chính - xã Tuân Chính trước đây thuộc tổng Tuân Lộ, là một vùng đất cổ, có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời.
dinh phu chinhChùa Tháp Tường Long- Rồng Vàng Trên Đỉnh Long Sơn
dinh phu chinhChiêm ngưỡng “Nhà Thờ Hồng” điểm sống ảo của giới trẻ Sài Thành

Tuân Chính là xã nằm về phía Tây Nam thị trấn Vĩnh Tường, gồm 7 thôn: Đông, Trung, Thượng, Táo, Quảng Cư, Tân Lập và Phù Chính. Thôn Phù Chính giáp với thôn Đông, Quảng Cư, kênh 6B và một phần xã Tam Phúc. Thôn Phù Chính còn có tên Nôm là làng Diền, là thôn lớn nhất trong xã, đất đai mang hình dáng một con thuyền úp. Đình làng nằm trên một khu đất cao nhất làng giống như là cái sống lưng thuyền. Mưa xuống nước chảy sang hai bên nên không bao giờ bị ngập lụt. Xưa nay, đình Phù Chính vẫn luôn là một trung tâm văn hoá của cộng đồng làng xã, nơi diễn ra các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng, nơi sinh hoạt văn hoá văn nghệ và các hoạt động mang tính cộng đồng khác của toàn dân trong thôn.

dinh phu chinh

Đình làng Phù Chính thờ vị thần thành hoàng, hiệu là Đế Nương, huý là Loan, họ Triệu, nhân dân tôn phong là Thánh Bà Cao Vương Đệ nhị Phu nhân (Phu nhân thứ hai của Cao Biền - An Nam Đô hộ phủ cai quản thành Đại La). Thờ phối với Đế Nương là Cao Biền, phu quân của bà. Sự tích của ngài được ghi trong Ngọc phả của làng Phù Chính được Hàn lâm viện Đông Các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn ngày mùng 5 tháng Ba năm Hồng Phúc thứ 2 (1573), nguyên văn bằng chữ Hán. Bản Ngọc phả này đã được Viện Nghiên cứu Hán Nôm sao chụp và dịch ra chữ Quốc ngữ. Nhờ vậy có thể tìm hiểu được về hành trạng của vị thần được thờ tại đình, tóm tắt như sau:

Thời thuộc Đường, vua Đường đổi An Nam nước ta làm Đô hộ phủ, cắt cử quan cai trị. Đến đời vua Đường Ý Tông, niên hiệu Hàm Thông (860- 874), vua phong cho Cao Biền làm Tiết độ sứ, kiêm Chiêu thảo sứ các đạo và giao cho ông làm Đô hộ phủ cai quản đất Giao Châu (tức nước Nam ta). Tương truyền, Cao Biền thuộc một dòng họ gia truyền tinh thông địa lý, trải nhiều đời làm quan, có công đánh dẹp giặc và quân phiến loạn nên được vua Đường hết sức tin cẩn. Cao Biền tới nước Nam ta liền cho đắp thành Đại La bên bờ sông Tô Lịch và tự xưng là An Nam quốc vương, lại chỉnh đốn việc thu thuế, tiến hành khai khẩn đất hoang, sai đào sông vét cảng góp phần mở mang giao thông... Trong lúc tuần du nước Nam ta, ngắm nhìn cảnh sắc phong tục của người Việt, đến địa phận của tổng Tuân Lộ (xã Tuân Chính ngày nay), thấy sơn thuỷ hữu tình, đất đai bằng phẳng, dân chúng thuần hậu, ông bèn cho xây một hành cung làm nơi nghỉ chân.

dinh phu chinh

Lại nói, lúc bấy giờ, ở châu Chu Diên có người họ Triệu, huý là Đề  vốn là miêu duệ của Triệu Việt Vương, trải qua nhiều đời luôn giữ nếp nhà làm phúc, chữa bệnh cứu người, dần trở nên giàu có mà được mọi người yêu mến, cảm phục. Phúc lành đã đến đời cháu là Triệu Công Toàn, vợ là Dương Thị Nguyệt. Khi ấy ông Toàn đã ngoại lục tuần, bà Nguyệt 42 tuổi vẫn chưa có con. Một hôm bà Nguyệt nằm mộng thấy mình được hoàng hậu của vua Triệu ban cho một đồng tiền vàng, bà giật mình tỉnh dậy mới biết đó là giấc mộng lành. Từ đó bà mang thai, đủ kỳ sinh được một người con gái dung nhan đẹp đẽ, ngời ngời môi hồng má phấn, mắt phượng mày ngài, đặt tên là Loan. Một hôm, có thầy địa lý đến xem và bảo rằng; “Con gái của ông bà không phải là người thường, không phải là tiên bồng giáng thế mà là Đế Nữ sinh ra ở đời, sau này tất sẽ kết duyên với bậc quân vương”. Tên Đế Nương nhờ vậy mà thành. Năm Đế Nương lên 7 tuổi, được cho đi học, qua 3 năm đã thấy thông thạo thi thư, văn chương. Năm Đế Nương 12 tuổi, cha Đế Nương qua đời, bấy giờ nước ta gặp nhiều cảnh binh biến, hai mẹ con bèn gói ghém gia tài đến cư trú tại vùng đất mà nay là địa phận thôn Phù Chính, xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường. Hai mẹ con làm nghề buôn bán gà, mở một quán nước bên đường, ngầm chọn anh tài, tập hợp nhiều người giỏi sung làm gia thần thủ túc.

Trở lại việc Cao Biền dẫn quân sĩ kinh lược đến vùng Phù Chính, nghe danh tiếng, gặp gỡ rồi cảm mến tài sắc của Đế Nương, ông bèn sai người làm mối đưa lễ đến dạm hỏi rồi kết duyên với Đế Nương, lập làm phu nhân thứ hai. Đế Nương thường về hành cung ở Phù Chính thăm dân làng, ban phát của cải cho người nghèo, tạo dựng làng xóm khang trang. Khi ấy trong xã có các họ Nguyễn, Lê, Trần, Phan, Đặng đều xin làm thần tử cho bà. Được 3 năm thì vua Đường xuống chiếu triệu Cao Biền về nước. Đế Nương liền trở về quê cũ, tu tạo lại cung sở, cùng dân làng vui cảnh đồng quê.

Hơn 10 năm trôi qua, giặc Ai Lao (Nam Chiếu) cử binh đánh úp An Nam. Đế Nương liền chiêu mộ nghĩa binh được hơn 1000 người, hội họp ở Phong Châu làm lễ tế cáo trời đất cùng bách thần âm phù đánh giặc. Đế Nương buộc tóc, thắt dải khăn hồng ở lưng, mỗi tay cầm một kiếm, cưỡi con ngựa trắng, giả làm một tướng nam, tiến đánh Ai Lao. Đánh được hơn mười trận, giặc bắt được quân của Đế Nương, biết là nữ giới mới hô tiếp viện ứng chiến, định bắt sống. Đế Nương đành rút quân về khu làng thuộc địa phận Tuân Chính ngày nay. Quân Man lại đuổi đến. Tỳ tướng gia thần của bà là nàng Xuân Hoa (hay Thanh Xuân - vốn là người xã Cẩm Viên) khi bị bắt đã tự vẫn. Đế Nương giả hàng phục để an táng cho Xuân Hoa rồi đợi đến đêm, hai tay hai kiếm phá vòng vây chạy thẳng đến bến sông Chiểu Ứng (thuộc làng Chiểu Ứng, nay đất làng này nhập vào thôn Phù Chính, tương truyền bến sông xưa nay là vùng ao và đất canh tác phía trước đình làng). Quân Man đuổi theo. Đế Nương đường cùng, lớn tiếng mắng quân giặc rồi nhảy xuống sông tự vẫn. Người đời sau có thơ rằng (tạm dịch):

                                    Nam nhi tử trận ấy chuyện thường

                                    Nữ tiết như nàng tỏ ngàn phương                                    

                                    Tang hải biến dời muôn vật đổi

                                    Vãng lai đọng lại một tình thương

Nhân dân Phù Chính và nhiều làng khác trong vùng từ đó lập đền, miếu phụng thờ bà. Về sau các làng này dựng đình thì lại rước long ngai bài vị  của Đế Nương về đình để thờ. Thời Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, qua đền này trú binh một ngày, biết sự tích linh ứng của thần bèn làm lễ cầu đảo và đã được thần ứng nghiệm ngay tức khắc. Đinh Bộ Lĩnh liền cử binh ra trận. Quả nhiên, qua một trận đã dẹp xong loạn, thu phục non sông về một mối. Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua, lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng, ban thưởng công trạng cho các tướng sĩ, gia phong mỹ tự cho bách thần có công âm phù dẹp giặc. Đế Nương và Cao Biền được phong là “Khả Lã Đế Nương Đế Phi Đệ nhị vị”. Đến đời Lê Đại Hành, đền thờ Đế Nương đã nổi tiếng linh ứng khắp cả nước, vua mới cầu đảo xin ngài âm phù đánh giặc. Quả nhiên dựng được đại nghiệp liền gia phong cho Đế Nương và Cao Biền là “Quốc vương Thiên tử Khả Lã Đế Nương Đế Vương lưỡng vị”. Trải qua các đời sau đều được các bậc đế vương gia phong mỹ tự.

dinh phu chinh

Trong cuộc chiến chống Pháp, đình Phù Chính cũng là một địa chỉ đỏ. Áo nâu, cờ lọng được mang ra dùng làm tư trang cho du kích. Năm 1945, đồng chí Khuất Thị Vĩnh, uỷ viên ban cán sự Vĩnh Yên và các đồng chí khác đã từng đến đây trong cuộc kiểm tra phong trào từng làng, hướng dẫn thành lập Ban chấp hành Mặt trận Việt Minh (tháng 7 năm 1945). Ba Đảng viên đầu tiên được kết nạp tại đình làng Phù Chính là: Trần Tiếng Nghiết, Trịnh Tiến Lật và Phan Hữu Ứng. Về sau đình được sử dụng làm kho quân trang, kho hợp tác xã, phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta.

Đình Phù Chính được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh năm 2006. Đình hướng về phía Tây Nam ở trên một khu đất cao vào vị trí trung tâm của làng, ba phía xung quanh là nhà dân, trước mặt là một dải ao - vườn - ruộng  rộng, thoáng đãng, có bóng đa, bóng tre bao bọc, râm mát. Trong đình có một trụ đèn bằng đá có khắc chữ “Hoàng triều Chính Hòa” (1676-1705). Từ đó thể nhận định rằng ngôi đình hiện nay được dựng lên và việc thờ cúng ở đình đã được nhân dân địa phương thực hiện ít nhất là từ thời Lê, cách đây khoảng 300 năm. Về niên đại kiến trúc của đình tại thời điểm lập hồ sơ xếp hạng di tích, dựa vào những hình chạm khắc trang trí, có thể ước đoán niên đại xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX (nhà Nguyễn). Theo các cụ cao niên trong làng, bộ khung gỗ của ngôi đình được mua tận bên Sơn Tây về để dựng đình. Ngày đó đình còn có tam quan xây theo lối kiến trúc cửa cuốn, hai bên có tả, hữu mạc, có sân rộng là nơi đánh cờ người, trong đình có ván lát sàn… Qua những biến cố thăng trầm của lịch sử, những kiến trúc đồ sộ tạo dáng vẻ hoành tráng không còn nữa, chỉ còn lại một toà đại đình và một khoảng sân tương đối rộng. Giữa một khu dân cư đông đúc, ngôi đình làng lợp ngói mũi hài kiểu truyền thống, mộc mạc, giản dị, hiện lên trên một vùng quê thanh bình, trù phú càng mang dáng vẻ gần gũi, thân thuộc, như một ngôi nhà cổ vùng châu thổ sông Hồng xưa.

dinh phu chinh

Tại đình vẫn còn một số những cổ vật có giá trị văn hóa, lịch sử cao, như: Bia công đức “Bản xã học điền bi chí” cao 1,6m rộng ngang 0,94m có ghi niên hiệu “Hoàng Triều Tự Đức nhị thập niên xuân mạnh nhị thập tứ nhật” (tức ngày 24 tháng giêng năm 1873 âm lịch), ghi việc dân xã đặt ruộng làm học điền để tỏ lòng tôn sư trọng đạo và đề cao việc học tập của làng; trụ đèn đá cao 1,17m, khắc chữ “Nhân tam xã đẳng phú quý bình an khang thái” và “Tam Đái phủ, Bạch Hạc huyện, Chiêu Ứng xã, Trần tộc vi Hữu Hưng công cách tác thạch trụ thần đăng tinh trụ khai Trần tử hậu”; “Kính thiên nhất hưng công Trần Phú Nhượng, Trần Thế Nhu, Trần Khắc Khang đẳng”. Nghĩa là: Trần Khắc Khang, Trần Phú Nhượng, Trần Thế Nhu ở xã Chiêu Ứng, huyện Bạch Hạc, phủ Tam Đái cùng toàn họ làm cột đá thần đăng trên khắc 10 chữ chúc dân ba xã (Phù Lập, Phù Chính, Chiêu Ứng) phú quý, bình an. Niên hiệu được khắc trên trụ đá là “Hoàng Triều Chính Hoà nhị thập lục niên mạnh tứ nguyệt cốc nhật” (Thời Lê Hy Tông - tháng Tư năm 1705). Ngoài ra còn một số di vật khác như: bát hương đá, cây hương đá, mâm bồng, bát hương, bình rượu bằng sứ, long ngai bài vị bằng gỗ…

Đình làng Phù Chính đã qua nhiều lần tu sửa và gia cố, hiện đang được trùng tu tôn tạo lớn, quy mô năm gian hai chái, kiến trúc chồng rường giá chiêng kiểu truyền thống, bền vững. Được sự quan tâm của Đảng uỷ-Chính quyền địa phương cùng với lòng ngưỡng mộ của người dân, bà con xa gần với các họ tộc trong làng, nên đình Phù Chính luôn được bảo vệ, gìn giữ trong trạng thái tốt.  Môi trường xung quanh đình luôn được vệ sinh sạch sẽ, thoáng mát, các hiện vật trong đình được bảo vệ cẩn thận, chu đáo. Không những thế,  sự công đức của dân làng, khách thập phương làm cho đình ngày  càng khang trang hơn. Nhân dân trong làng vẫn quan tâm bảo tồn, duy trì, phục hồi lễ hội. Lễ rước kiệu làng Phù Chính được tổ chức tại đình là một lễ hội khá tiêu biểu trong vùng, còn giữ được những nét đẹp truyền thống rất đáng trân trọng. Lễ hội tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng giêng. Từ gà gáy dân làng tập trung thổi xôi, giã bánh dày tại đình hoặc một nhà đăng cai giã bánh, chuẩn bị lễ. Sáng sớm dùng kiệu rước bánh và xôi gà, hương hoa từ nhà ấy ra đình. Sau đó tổ chức tế thần hoàng làng. Lễ hội này được phục hồi cách đây 7 năm và liên tục từ đó đến nay năm nào cũng duy trì lễ hội để nhằm giữ truyền thống cho con cháu thế hệ sau.

https://dulich.petrotimes.vn/

Hoàng Lĩnh

Sở VHTTDL Vĩnh Phúc